Bỏ qua menu, vào nội dung chính

Trợ cấp thôi việc và trợ cấp mất việc làm: cách tính, ai phải trả và vì sao thường ra số nhỏ

Trợ cấp thôi việc bằng nửa tháng lương mỗi năm, trợ cấp mất việc làm một tháng lương mỗi năm và ít nhất 2 tháng, đều do công ty trả. Bài giải thích khi nào phải trả, cách tính thời gian sau khi trừ phần đã đóng BHTN, tiền lương dùng để tính, hai ví dụ có công cụ và thời hạn chi trả.

10 phút đọc

Trợ cấp thôi việc là khoản công ty trả khi hợp đồng lao động chấm dứt vì các lý do thông thường như hết hạn hay thoả thuận, bằng nửa tháng tiền lương cho mỗi năm làm việc; trợ cấp mất việc làm là khoản trả khi công ty cho nghỉ vì thay đổi cơ cấu, công nghệ, lý do kinh tế hay sáp nhập, bằng một tháng tiền lương mỗi năm và ít nhất hai tháng. Nhận định của bài: "số năm làm việc" trong hai công thức này hiếm khi là thâm niên thật, vì phải trừ toàn bộ thời gian đã đóng bảo hiểm thất nghiệp, nên với phần lớn người vào làm sau năm 2009 kết quả chỉ còn phần thử việc.

Cụm "cách tính trợ cấp thôi việc" có khoảng 1.600 lượt tìm mỗi tháng (Semrush, 26/09/2026). Căn cứ của bài là Điều 46, 47 Bộ luật Lao động 45/2019/QH14 và Điều 8 Nghị định 145/2020/NĐ-CP, tra nguyên văn ngày 26/09/2026.

Khi nào công ty phải trả trợ cấp thôi việc

Điều 46 Bộ luật Lao động buộc công ty trả trợ cấp thôi việc cho người đã làm việc thường xuyên từ đủ 12 tháng khi hợp đồng chấm dứt theo các khoản 1, 2, 3, 4, 6, 7, 9 và 10 Điều 34, gồm:

  • Hợp đồng hết hạn, hoặc đã hoàn thành công việc theo hợp đồng.
  • Hai bên thoả thuận chấm dứt.
  • Người lao động bị kết án tù không được hưởng án treo, hoặc bị cấm làm công việc ghi trong hợp đồng theo bản án; người lao động chết, mất tích, mất năng lực hành vi dân sự.
  • Người sử dụng lao động là cá nhân chết, hoặc doanh nghiệp chấm dứt hoạt động.
  • Người lao động đơn phương chấm dứt đúng luật, hoặc công ty đơn phương chấm dứt đúng luật.

Không phải trả trong hai trường hợp: người lao động đã đủ điều kiện hưởng lương hưu, và người lao động tự ý bỏ việc từ 5 ngày làm việc liên tục trở lên không có lý do chính đáng. Người bị sa thải hoặc tự nghỉ trái luật cũng không nằm trong danh sách các khoản được hưởng.

Trợ cấp mất việc làm (Điều 47) áp dụng khi công ty cho thôi việc vì thay đổi cơ cấu, công nghệ, vì lý do kinh tế, hoặc do chia, tách, hợp nhất, sáp nhập, bán, cho thuê doanh nghiệp mà không bố trí được việc làm. Mức là một tháng tiền lương cho mỗi năm, ít nhất hai tháng; Nghị định 145/2020/NĐ-CP nói rõ người đủ 12 tháng mà thời gian tính dưới 24 tháng vẫn được ít nhất hai tháng.

Thời gian được tính: tổng thời gian làm việc trừ phần đã đóng BHTN

Khoản 3 Điều 8 Nghị định 145/2020/NĐ-CP định nghĩa thời gian tính trợ cấp bằng tổng thời gian làm việc thực tế cho công ty, trừ thời gian đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp và thời gian đã được trả trợ cấp thôi việc, mất việc làm trước đó.

Sơ đồ năm bước tính thời gian hưởng trợ cấp thôi việc: thời gian làm việc thực tế, trừ thời gian đóng BHTN, trừ thời gian đã trả, làm tròn, nhân tiền lương
Hai phép trừ ở giữa là chỗ phần lớn bảng tính sai: sau năm 2009 hầu hết thời gian làm việc đã đóng BHTN nên không còn được tính. ALODEV dựng theo Bộ luật Lao động 2019 và Nghị định 145/2020/NĐ-CP.
  • Thời gian làm việc thực tế gồm cả thời gian thử việc, được cử đi học, nghỉ hưởng chế độ ốm đau, thai sản, nghỉ điều trị tai nạn lao động có trả lương, nghỉ hằng tuần, nghỉ lễ, nghỉ phép, ngừng việc không do lỗi người lao động, và thời gian bị tạm đình chỉ công việc.
  • Thời gian đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp gồm cả những tháng người lao động không thuộc diện đóng nhưng công ty đã trả kèm vào lương một khoản tương đương mức công ty lẽ ra đóng.
  • Làm tròn theo năm: tháng lẻ từ 6 tháng trở xuống tính nửa năm, trên 6 tháng tính một năm.

Bảo hiểm thất nghiệp bắt đầu có từ 01/01/2009, và Điều 35 Luật Việc làm 2025 nhắc lại rằng thời gian đóng không được tính cho trợ cấp thôi việc. Vì vậy với người vào làm sau năm 2009, thời gian được tính thường chỉ còn thời gian thử việc (không đóng bảo hiểm thất nghiệp) và những tháng công ty chưa đăng ký đóng. Lý do phần đã đóng bị trừ là người lao động đã có quyền hưởng trợ cấp thất nghiệp cho giai đoạn đó, như tập trước về trợ cấp thất nghiệp đã giải thích.

Tiền lương dùng để tính: bình quân 6 tháng theo hợp đồng

Khoản 3 Điều 46 và khoản 3 Điều 47 lấy tiền lương bình quân của 6 tháng liền kề theo hợp đồng lao động trước khi nghỉ. Đây là tiền lương theo hợp đồng, gồm mức lương, phụ cấp lương và các khoản bổ sung thoả thuận, không phải tiền lương đóng bảo hiểm và không phải lương thực nhận sau thuế.

Ví dụ giả định thứ nhất: chị Mai vào làm 01/03/2021, thử việc 2 tháng, ký hợp đồng và đóng bảo hiểm thất nghiệp từ tháng 5/2021, hợp đồng hết hạn và chị nghỉ từ 01/10/2026 (làm việc tới hết 30/09/2026). Tổng thời gian làm việc 67 tháng, trong đó 65 tháng đã đóng bảo hiểm thất nghiệp; còn 2 tháng thử việc, làm tròn thành nửa năm. Trợ cấp thôi việc: 0,5 năm x 0,5 tháng x 14.000.000 = 3.500.000 đồng.

Công cụ tính trợ cấp thôi việc của ALODEV: làm từ 01/03/2021, nghỉ 01/10/2026, 67 tháng làm việc, 65 tháng đóng BHTN, trợ cấp 3.500.000 đồng
Làm việc 67 tháng, 65 tháng đã đóng BHTN: chỉ 2 tháng thử việc còn lại, làm tròn thành nửa năm, trợ cấp thôi việc bằng 0,25 tháng lương, tức 3.500.000 đồng với lương 14.000.000 đồng. Ảnh chụp công cụ /lab/tro-cap-thoi-viec của ALODEV ngày 26/09/2026, số liệu giả định.

Ví dụ giả định thứ hai: anh Sơn vào làm 01/06/2006, công ty đóng bảo hiểm thất nghiệp cho anh từ tháng 01/2009, năm 2026 công ty tái cơ cấu và cho anh nghỉ từ 01/10/2026. Tổng 244 tháng làm việc, trừ 213 tháng đã đóng, còn 31 tháng, tức 2 năm 7 tháng, làm tròn thành 3 năm. Trợ cấp mất việc làm: 3 x 20.000.000 = 60.000.000 đồng. Nếu anh nghỉ vì hết hạn hợp đồng thay vì tái cơ cấu, khoản thôi việc chỉ còn 3 x 0,5 x 20.000.000 = 30.000.000 đồng.

Công cụ tính trợ cấp mất việc làm của ALODEV: làm từ 01/06/2006, 244 tháng làm việc, 213 tháng đóng BHTN, trợ cấp 60.000.000 đồng
Người vào làm năm 2006, BHTN bắt đầu từ 01/2009: 31 tháng trước năm 2009 được tính, làm tròn thành 3 năm, trợ cấp mất việc làm 3 tháng lương, tức 60.000.000 đồng. Ảnh chụp công cụ /lab/tro-cap-thoi-viec của ALODEV ngày 26/09/2026, số liệu giả định.

Có thể nhập ngày vào làm, ngày nghỉ, số tháng đã đóng bảo hiểm thất nghiệp và lương của mình vào công cụ tính trợ cấp thôi việc, mất việc làm; số tháng đã đóng lấy từ ứng dụng VssID hoặc sổ bảo hiểm xã hội.

Ai trả, trả khi nào

Cả hai khoản do công ty trả bằng tiền của công ty, không phải quỹ bảo hiểm. Điều 48 Bộ luật Lao động cho hai bên 14 ngày làm việc kể từ ngày chấm dứt hợp đồng để thanh toán đầy đủ các khoản liên quan, kéo dài được nhưng không quá 30 ngày trong một số trường hợp như công ty chấm dứt hoạt động, thay đổi cơ cấu hay gặp thiên tai. Công ty có thể trả cao hơn mức luật nếu quy chế, thoả ước hay hợp đồng có ghi; mức luật là sàn.

Ba lỗi hay gặp khi công ty tự làm bảng tính:

  1. Tính theo toàn bộ thâm niên, quên trừ thời gian đã đóng bảo hiểm thất nghiệp: trả thừa, và khó thu lại.
  2. Quên cộng thời gian thử việc: trả thiếu, người lao động có quyền khiếu nại.
  3. Lấy lương đóng bảo hiểm làm căn cứ khi lương hợp đồng cao hơn: trả thiếu phần chênh lệch.

Câu hỏi thường gặp

Trợ cấp thôi việc tính thế nào?

Lấy thời gian làm việc thực tế trừ thời gian đã đóng bảo hiểm thất nghiệp và thời gian đã được trả trợ cấp, làm tròn theo nửa năm, rồi nhân nửa tháng tiền lương bình quân 6 tháng theo hợp đồng cho mỗi năm.

Đã đóng bảo hiểm thất nghiệp đủ thì có được trợ cấp thôi việc không?

Không cho phần thời gian đã đóng. Nếu toàn bộ thời gian làm việc đều đã đóng bảo hiểm thất nghiệp thì trợ cấp thôi việc bằng 0, người lao động dùng quyền hưởng trợ cấp thất nghiệp thay thế.

Làm chưa đủ 12 tháng có được trợ cấp thôi việc không?

Không. Điều 46 và 47 Bộ luật Lao động đều yêu cầu đã làm việc thường xuyên cho công ty từ đủ 12 tháng trở lên.

Thời gian thử việc có được tính không?

Có. Điều 8 Nghị định 145/2020/NĐ-CP tính thời gian thử việc vào thời gian làm việc thực tế, và vì thử việc không đóng bảo hiểm thất nghiệp nên phần này thường là phần duy nhất còn lại để tính trợ cấp.

Trợ cấp mất việc làm khác trợ cấp thôi việc ở đâu?

Mất việc làm áp dụng khi công ty cho nghỉ vì thay đổi cơ cấu, công nghệ, lý do kinh tế hoặc sáp nhập, chia tách; mức gấp đôi thôi việc (một tháng lương mỗi năm) và ít nhất hai tháng lương.

Lương, bảo hiểm và thuế thu nhập cá nhân toàn tập10 phút đọc

Cách tính lương hưu từng bước theo Luật BHXH 2024, có ví dụ nam, nữ và công cụ tính

Lương hưu hằng tháng bằng tỷ lệ hưởng nhân mức bình quân tiền lương đóng BHXH đã điều chỉnh trượt giá. Bài tính từng bước: điều kiện, tỷ lệ của nam và nữ theo số năm đóng, cách lấy bình quân, trợ cấp một lần khi đóng vượt năm, mức giảm khi nghỉ sớm và lần tăng 8% từ 01/07/2026.

Lương, bảo hiểm và thuế thu nhập cá nhân toàn tập9 phút đọc

Tuổi nghỉ hưu theo lộ trình: bảng tra theo tháng năm sinh cho nam và nữ, năm 2026 là bao nhiêu

Năm 2026 tuổi nghỉ hưu trong điều kiện bình thường là 61 tuổi 6 tháng với nam và 57 tuổi với nữ, mỗi năm tăng 3 tháng với nam tới 62 tuổi, 4 tháng với nữ tới 60 tuổi. Bài có bảng tra theo tháng năm sinh, cách xác định tháng nghỉ hưu, trường hợp được nghỉ sớm hoặc muộn hơn.

Lương, bảo hiểm và thuế thu nhập cá nhân toàn tập10 phút đọc

Trợ cấp thất nghiệp 2026: điều kiện, mức hưởng, hồ sơ và thời hạn nộp theo Luật Việc làm mới

Trợ cấp thất nghiệp mỗi tháng bằng 60% bình quân lương đóng BHTN 6 tháng gần nhất, tối đa 5 lần lương tối thiểu vùng, hưởng 3 đến 12 tháng. Bài giải thích bốn điều kiện, cách đếm số tháng hưởng, hồ sơ nộp trong 3 tháng, mốc ngày làm việc thứ 11 và những lỗi làm mất tiền.

Nhận bài mới

Để lại email để nhận bài mới của series Lương, bảo hiểm và thuế thu nhập cá nhân toàn tập, hoặc theo dõi bằng RSS.

RSS Lương, bảo hiểm và thuế thu nhập cá nhân toàn tập

Email chỉ dùng để gửi bài mới, xem Chính sách bảo mật.

Trao đổi về dự án

Cần tư vấn?